36. Sớ Cúng Cầu Ngư

(Thiên Địa Thủy Phủ)

 

Nguyên văn:

 

伏以

天地水府、職掌十方、五湖八海龍王、同來御座。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家居奉

佛聖上香獻供...事。今弟子...等、俯瀝丹誠、仰干神聽、情旨祈爲。言念、爰憑科法之儀、願保平安之福。捐取本月吉日、請命...就于三江水面處、修禮求魚求財求安一筵、三献法事如式宣行。所有菲儀、用申上献。

天府天皇大帝。地府祖皇大帝。水府扶桑大帝。主府洞霆北海帝君。五郎太子五位龍王。三位輔國先生尊神。坎宮子位水界仙娘。上山雲峒火風神女仙娘。孔露覺海二位尊神。婆奇仙娘紅娘仙女娘仙女夫人。太子臼才臼貴二位尊翁。五方金木水火土五行仙娘。水濟水湖水族夫人。今年行譴行兵尊神。當境土地正神。五方河伯水官。陰兵部下列位。普及水府紫林左右江邊、山川河海傷亡男女十類孤魂列位。同垂炤鑒。伏願、

聖乎在上、人道在其中、不知吉凶、何由未變。正茲水府職掌魚鰕、洋洋在上、濯濯厥靈、願信主千秋不絕、萬歲清寧、四辰盛利、財祿進多、家中康泰、長幼平安。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Thiên địa Thủy Phủ1, chức chưởng thập phương; Ngũ Hồ2 Bát Hải3 Long Vương,4 đồng lai ngự tòa.

Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia cư phụng Phật Thánh thượng hương hiến cúng ... sự. Kim đệ tử … đẳng, phủ lịch đơn thành, ngưỡng can Thần thính, tình chỉ kỳ vi.

Ngôn niệm: Viên bằng khoa pháp chi nghi, nguyện bảo bình an chi phước. Quyên thủ bổn nguyệt cát nhật, thỉnh mạng ... tựu vu tam giang thủy diện xứ, tu thiết lễ cầu ngư cầu tài cầu an nhất diên; tam hiến pháp sự như thức tuyên hành, sở hữu phỉ nghi, dụng thân thượng hiến:

Thiên Phủ Thiên Hoàng Đại Đế.5

Địa Phủ Tổ Hoàng Đại Đế.

Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế.6

Chúa Phủ Động Đình7 Bắc Hải8 Đế Quân.

Ngũ Lang Thái Tử Ngũ Vị Long Vương.

Tam Vị Phụ Quốc Tiên Sinh Tôn Thần.

Khâm Cung Tử Vị Thủy Giới Tiên Nương.

Thượng Sơn Vân Động Thủy Phong Thần Nữ Tiên Nương.

Khổng Lộ Giác Hải Nhị Vị Tôn Thần.

Bà Kỳ Tiên Nương, Hồng Nương Tiên Nữ, Long Nương Tiên Nữ Phu Nhân.

Thái Tử Cậu Tài Cậu Quý Nhị Vị Tôn Ông.

Ngũ Phương Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ Ngũ Hành Tiên Nương.

Thủy Tề Thủy Triều Thủy Tộc Phu Nhân.

Kim Niên Hành Khiển Hành Binh Tôn Thần.

Đương Cảnh Thổ Địa Chánh Thần.

Ngũ Phương Hà Bá9 Thủy Quan, âm binh bộ hạ liệt vị.

Phổ cập thủy phủ tử lâm tả hữu giang biên sơn xuyên hà hải, thương vong nam nữ thập loại cô hồn liệt vị, đồng thùy chiếu giám.

Phục nguyện: Thánh hồ tại thượng, nhân đạo tại kỳ trung; bất tri cát hung, hà do vị biến; chánh tư thủy phủ chức chưởng ngư hà, dương dương10 tại thượng, trạc trạc11 khuyết linh; nguyện tín chủ thiên thu bất tuyệt, vạn tuế thanh ninh; tứ thần thạnh lợi, tài lộc tấn đa; gia trung khương thái, trưởng ấu bình an. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Trời đất Thủy Phủ, cai quản mười phương; năm hồ tám biển Long Vương, cùng đến an tọa.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật Thánh, dâng hương tụng kinh ... Hôm nay đệ tử …, bày tấc lòng thành, ngưỡng trông thần đức, lắng nghe ban chỉ.

Thiết nghĩ: Nay nương khoa nghi pháp sự, nguyện mong được phước bình an; chọn lấy ngày lành tháng nầy, cung thỉnh ... đến trên mặt nước của sông hồ, thiết một diên lễ cầu cá, cầu tài và cầu an; ba hiến pháp sự, nghi thức tiến hành; chút lễ mọn nầy, kính xin dâng cúng:

Thiên Phủ Thiên Hoàng Đại Đế.

Địa Phủ Tổ Hoàng Đại Đế.

Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế.

Chúa Phủ Động Đình Bắc Hải Đế Quân.

Ngũ Lang Thái Tử Năm Vị Long Vương.

Ba Vị Phụ Quốc Tiên Sinh Tôn Thần.

Khâm Cung Tử Vị Thủy Giới Tiên Nương.

Thượng Sơn Vân Động Thủy Phong Thần Nữ Tiên Nương.

Hai vị tôn thần Khổng Lộ, Giác Hải.

Bà Kỳ Tiên Nương, Hồng Nương Tiên Nữ, Long Nương Tiên Nữ Phu Nhân.

Hai vị tôn ông Thái Tử Cậu Tài, Cậu Quý.

Ngũ Phương Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ Ngũ Hành Tiên Nương.

Thủy Tề Thủy Triều Thủy Tộc Phu Nhân.

Các vị thần Hành Khiển, Hành Binh năm nay.

Thổ Địa Chánh Thần vùng nầy.

Thủy Quan Hà Bá ở năm phương và chư vị âm binh bộ hạ.

Cùng xin chư vị mười loại cô hồn nam nữ bị thương chết bên phải trái dòng sông, chốn núi non sông lạch biển cả và chốn Thủy Phủ, cùng xót thương chứng giám cho.

Cúi mong: Trên cao Thánh ngự, tại chốn giữa cõi người; chẳng biết dữ lành, do đâu biến hóa. Nay lúc Thủy Thần coi sóc cá tôm, trên cao vời vợi, vui vẻ linh hồn; mong tín chủ ngàn thu không dứt, vạn tuế sáng trong; Bốn Mùa thịnh lợi, tài lộc thêm nhiều; trong nhà vui khỏe, lớn nhỏ bình an. Xin dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

Phần chú thích:

  1. Thủy Phủ (水府): nơi Thủy Thần trú ngụ. Ở Trung Quốc có Thủy Phủ Miếu (水府) được kiến lập vào năm thứ 12 (207) niên hiệu Kiến An (建安), cách 1.5 dặm về phía nam Thôn Trương Doanh (張營村), Làng Thành Giao (城郊鄉), Huyện Tân Dã (新野縣). Tương truyền, lúc bấy giờ Lưu Bị (劉僃) đang đóng binh tại Tân Dã (新野) để chiêu hiền nạp sĩ, sau ba lần đến thảo lư và cuối cùng mời được Gia Cát Lượng (諸葛亮) ra làm phụ tá. Khi Gia Cát Lượng tiến hành khảo sát địa lý quân sự vùng Tân Dã, phát hiện ra có hình dáng lưng con thủy xà (rắn nước) cách 3 dặm về phía nam Thành Tân Dã, lại gặp nước song tràn lên quá bờ đê, làm cho bá tánh phải khổ sở vì nạn nước lũ. Gia Cát Lượng đích thân thiết kế phương án trị thủy, động viên toàn quân dân cải cách đường sông, làm cho kiên cố đê điều và cho thiết lập một bến đò tại đây (tức Bến Đò Hán Tân [漢津碼頭]) để trấn thủy và đề phòng thủy tai. Người dân vùng nầy lại kiến lập một quần thể miếu điện ở phía đông bắc bến đò nầy trong vòng nửa năm trường, lấy tên là Thủy Phủ Miếu. Dưới thời nhà Đường và Tống, nơi đây trở thành trung tâm lưu thông các thương phẩm quan trọng của địa khu Trung Nguyên và trung tâm giao lưu văn hóa phồn thịnh. Đến thời nhà Minh, phần lớn các kiến trúc bị hư hại do binh hỏa. Bên trong điện có tôn thờ 58 tượng các vị thần như Thần Sông (河神), Ngọc Hoàng (玉皇), v.v. Mỗi năm những hoạt động tôn giáo quan trọng của khu miếu nầy có Miếu Hội vào ngày mồng 8 tháng 4, tế tự vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm Lịch, v.v. Ngoài ra, theo tín ngưỡng của Đạo Mẫu ở Việt Nam, Thủy Phủ (miền sông nước) là một trong Tứ Phủ, do mẫu đệ tam (Mẫu Thoải) trị vì. Trong truyện cổ tích của Việt Nam có câu chuyện Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy Phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân. Trong Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) quyển 152, phần Trịnh Đức Cự (鄭德苣) có câu: “Vi thị nãi ngộ, khủng quý, chiêu Tẩu đăng thuyền, bái nhi tấn tửu quả, khấu đầu viết: ‘Ngô chi phụ mẫu, đương tại Thủy Phủ, khả tỉnh cận phủ ?’ (韋氏乃悟恐悸召叟登舟拜而進酒果叩頭曰吾之父母當在水府可省覲否, Họ Vi bèn tỉnh ngộ, sợ mà động lòng, mời Tẩu lên thuyền, lạy và dâng rượu quả, cúi đầu thưa: ‘Cha mẹ tôi đang ở tại Thủy Phủ, liệu có thể thức tỉnh mà thân cận chăng ?’).” Hay như trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經) của Đạo Giáo lại có đoạn: “Thiên Tôn ngôn: ‘Thiên hạ chúng sanh, giang hà hồ hải, chu hàng thương cổ, phong ba hung dũng, kinh hoàng ưu cụ; nhược tụng thử kinh, quy y thiên địa Thủy Quan, Thủy Phủ chúng Thánh, tức sử phong điềm lãng tĩnh, thủy đồ an thỏa’ (天尊言天下眾生江河湖海舟航商賈風波洶湧驚惶憂懼若誦此經皈依天地水官水府眾聖使風恬浪靜水途安妥, Thiên Tôn dạy rằng: ‘Chúng sanh trong thiên hạ, sông nước hồ biển, thuyền bè buôn bán, sóng gió ầm ầm, kinh hoàng hãi sợ; nếu tụng kinh nầy, quy y thiên địa Thủy Quan, các bậc Thánh của Thủy Phủ, tức sẽ khiến cho gió yên sóng lặng, đường thủy yên ổn).” Hoặc trong Thái Nhất Cứu Khổ Hộ Thân Diệu Kinh (太一救苦護身妙經) của Đạo Giáo cho rằng Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn (太乙救苦天尊) ở dưới Thủy Phủ thì được gọi là Động Uyên Đế Quân (洞淵帝君): “Thử Thánh tại thiên hô vi Thái Nhất Phước Thần, tại thế hô vi Đại Từ Hành Giả, tại Địa Ngục hô vi Nhật Diệu Đế Quân, tại ngoại đạo nhiếp tà hô vi Sư Tử Minh Vương, tại Thủy Phủ hô vi Động Uyên Đế Quân (此聖在天呼爲太一福神在世呼爲大慈行者在地獄呼爲日耀帝君在外道攝邪呼爲獅子明王在水府呼爲洞淵帝君, vị Thánh nầy ở trên trời được gọi là Thái Nhất Phước Thần, trên thế gian được gọi là Đại Từ Hành Giả, dưới Địa Ngục được gọi là Nhật Diệu Đế Quân, nơi ngoại đạo trừ tà được gọi là Sư Tử Minh Vương, dưới Thủy Phủ được gọi là Động Uyên Đế Quân).”
  2. Ngũ Hồ (五湖): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi chung của 5 hồ lớn ở vùng Giang Nam (江南), như trong Sử Ký (史記), phần Tam Vương Thế Gia (三王世家) có câu: “Đại Giang chi nam, Ngũ Hồ chi gian, kỳ nhân khinh tâm (大江之南五湖之間其人輕心, ở phía Nam của Đại Giang, khoảng giữa của Ngũ Hồ, lòng người nhẹ nhõm).” Tư Mã Trinh (司馬貞) giải thích rằng: “Ngũ Hồ giả, Cụ Khu, Thao Cách, Bành Lễ, Thanh Thảo, Động Đình thị dã (五湖者具區洮滆 彭蠡青草洞庭是也, Ngũ Hồ là Cụ Khu, Thao Cách, Bành Lễ, Thanh Thảo, Động Đình).” Trong Đan Duyên Tổng Lục (丹鉛總錄), phần Địa Lý (地理) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có ghi rằng: “Vương Bột văn ‘khâm Tam Giang nhi đới Ngũ Hồ’, tắc tổng ngôn Nam phương Ngũ Hồ; Động Đình nhất dã, Thanh Thảo nhị dã, Bà Dương tam dã, Bành Lễ tứ dã, Thái Hồ ngũ dã (王勃文襟三江而帶五湖則總言南方之湖洞庭一也青草二也鄱陽三也彭蠡四也太湖五也, đoạn văn ‘ôm Ba Sông mà mang Năm Hồ’ của Vương Bột là tên gọi chung của năm hồ lớn ở phương Nam; một là Động Đình, hai là Thanh Thảo, ba là Bà Dương, bốn là Bành Lễ, năm là Thái Hồ).” Thao Cách nay là Hồ Trường Đãng (長蕩湖) ở Giang Tô (江蘇); Bành Lễ hiện tại là Hồ Bà Dương; Thanh Thảo nay thuộc Đông Nam bộ của Động Đình Hồ. (2) Chỉ Động Đình Hồ, như trong bài thơ Quy Nhạn (歸雁) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Niên niên sương lộ cách, bất quá Ngũ Hồ thu (年年霜露隔不過五湖秋, hằng năm sương khói phủ, chẳng qua Ngũ Hồ thu).” (3) Chỉ cho 5 hồ lớn hiện tại ở vùng Hoa Trung (華中) và Hoa Đông (華東); gồm: Hồ Động Đình, Hồ Bà Dương, Hồ Sào (巢湖), Hồ Hồng Trạch (洪澤湖) và Thái Hồ (太湖). (4) Vào cuối thời Xuân Thu (春秋), quan Đại Phu của nước Việt là Phạm Lãi (范蠡), bổ tá Việt Vương Câu Tiễn (越王勾踐) đi diệt vong nhà Ngô; sau khi thành công, ông lui về ẩn cư, cỡi thuyền con mà ẩn cư nơi Ngũ Hồ; cho nên về sau Ngũ Hồ được dùng để chỉ cho nơi ẩn cư. Như trong bài thơ Thư Tình Tặng Thái Xá Nhân Hùng (書情贈蔡舍人雄) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Ngã túng Ngũ Hồ trạo, yên đào tứ băng bôn (我縱五湖棹煙濤恣崩奔, ta tung hoành khắp chốn, khói mây mặc rong chơi).”
  3. Bát Hải (八海): tám biển, tên gọi chung của các biển. Như trong bài Thủy Tiên Phú (水仙賦) của Đào Hoằng Cảnh (陶弘景, 456-536) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Miểu mạn Bát Hải, hoằng mịch Cửu Hà (淼漫八海汯汨九河, mênh mông Tám Biển, mịt mù Chín Sông).”
  4. Long Vương (s: nāgarāja, ): âm dịch là Na Già La Nhã (那伽羅), là vị có uy đức nhất trong loài rồng. Tương truyền rằng khi đức Phật đản sanh, có 2 vị Long Vương tên Nan Đà (s: Nanda, 難陀) và Bạt Nan Đà (s: Upananda, 難陀) xuất hiện rưới nước thanh tịnh tắm cho ngài. Trong Phẩm Tựa của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) có đề cập 8 vị Long Vương lớn đến nghe đức Phật thuyết pháp như Nan Đà (s: Nanda, 難陀), Bạt Nan Đà (s: Upananda, 難陀), Ta Già La (s: Sāgara, 娑伽羅), Hòa Tu Cát (s: Vāsuki, 和修吉), Đức Xoa Ca (s: Takṣaka, 德叉迦), A Na Bà Đạt Đa (s: Anavatapta, 阿那婆達多), Ma Na Tư (s: Manasvin, 摩那斯), Ưu Bát La (s: Utpalaka, 優鉢羅). Quyển 1 của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經) thì nêu tên 7 vị Long Vương. Các vị nầy thường có thể làm cho mây nỗi và ban mưa, khiến cho chúng sanh tiêu tan sự nóng bức. Ngoài ra, theo Tăng Hộ Kinh (僧護經) cho biết rằng Hải Long Vương () đã từng biến thành thân người nữ, xuất gia tu hành, nhưng trong khi ngủ không thể ẩn thân được nên hiện nguyên hình rồng; cho nên đức Phật dạy rằng con rồng lúc mới sanh ra, khi chết, giao cấu, sân hận, ngủ nghĩ thì vẫn giữ nguyên hình của nó, không thể biến hóa thành loài khác được. Đối với Long Vương có 3 điều lo âu: (1) nỗi khổ bị thiêu đốt bởi gió nóng và cát nóng; (2) nỗi lo sợ khi luồng gió ác thổi đến chỗ ở làm cuốn bay cả của báu và xiêm y; (3) nỗi lo sợ bị loài Kim Xí Điểu (金翅鳥, tức Ca Lâu La [s: garua, 迦樓羅]) ăn thịt. Tuy nhiên, loại Long Vương sống trong hồ A Nậu Đạt (阿耨達) thì không có những nỗi khổ nầy. Ngoài ra, Long Vương còn là tên gọi của một vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc, một trong Tứ Linh, nguyên lai phát xuất từ việc sùng bái Long Thần () kết hợp với tín ngưỡng Hải Thần (). Đại Long Vương có 4 vị, được gọi là Tứ Hải Long Vương (四海龍王), gồm: Nam Hải Quảng Lợi Vương (南海廣利王, hay Nam Hải Long Vương Ngao Khâm [海龍王敖欽]), Đông Hải Quảng Đức Vương (東海廣德王, hay Đông Hải Long Vương Ngao Quảng [海龍王敖廣]), Bắc Hải Quảng Trạch Vương (北海廣澤王, hay Bắc Hải Long Vương Ngao Thuận [北海龍王敖順]) và Tây Hải Quảng Thuận Vương (西海廣順王, hay Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận [西海龍王敖閏]). Trong đó, Đông Hải Long Vương là tối tôn. Trong Thái Thượng Động Uyên Thần Chú Kinh (太上洞淵神咒經) của Đạo Giáo có Phẩm Long Vương (龍王品), tùy theo phương vị mà gọi là Ngũ Đế Long Vương (五帝龍王), hay theo sông biển mà có tên là Tứ Hải Long Vương, theo thiên địa vạn vật mà nêu ra 54 tên Long Vương. Dưới thời vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường, nhà vua có hạ chiếu thờ Long Trì (龍池), lập đàn cúng tế, lấy nghi thức tế mưa để cúng tế Long Vương. Đến thời vua Thái Tổ (太祖, tại vị 960-976) nhà Tống lại dùng quy chế nghi cúng tế Ngũ Long của nhà Đường. Vào năm thứ 2 (1108) niên hiệu Đại Quán (大觀) đời vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống, có chiếu chỉ phong tước vương cho Ngũ Long. Thanh Long Thần (青龍神) là Quảng Nhân Vương (廣仁王), Xích Long Thần (赤龍神) là Gia Trạch Vương (嘉澤王), Hoàng Long Thần (黃龍神) là Phu Ứng Vương (孚應王), Bạch Long Thần (白龍神) là Nghĩa Tế Vương (義濟王), Hắc Long Thần (黑龍神) là Linh Trạch Vương (靈澤王). Đến năm thứ 2 (1863) niên hiệu Đồng Trị (同治, 1862-1874) nhà Thanh, nhà vua lại phong cho Vận Hà Long Thần (運河龍神) là Diên Hưu Hiển Ứng Phân Thủy Long Vương Chi Thần (延庥顯應分水龍王之神) và hạ lệnh cho Tổng Đốc quản lý về sông nước lo việc cúng tế. Về chức năng, Long Thần chuyên trách về việc tạo mây ban mưa, làm cho con người được mát mẻ, tiêu trừ nóng bức, phiền não. Theo các sử liệu cho biết, ngày cúng tế Long Thần khác nhau tùy theo truyền thuyết dân gian các nơi. Xưa kia, phần lớn những ngôi đền thờ Long Vương đồng dạng với đền thờ của Thành Hoàng (城隍), Thổ Địa (土地). Mỗi khi gặp gió mưa không thuận hòa, hạn hán kéo dài, hay mưa lâu mà không dứt, người dân thường đến miếu thờ Long Vương dâng hương, cầu nguyện để được phong điều vũ thuận. Trong Bác Dị Ký (博异志), phần Hứa Hán Dương (許漢陽) của Cốc Thần Tử (谷神子) nhà Đường có đoạn: “Tạc dạ Hải Long Vương chư nữ, cập di muội lục thất nhân quá quy Động Đình (昨夜海王諸女及姨妹六七人過歸洞庭, đêm hôm qua các nữ nhân của Hải Long Vương cùng với chị em sáu, bảy người đi ngang về Động Đình).”
  5. Thiên Hoàng Đại Đế (天皇大帝): một trong Tứ Ngự (四御, 4 vị tôn thần chủ tể thiên địa vạn vật dưới Tam Thanh Tôn Thần [三清尊神] của Đạo Giáo), gồm: Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝), Trung Thiên Tử Vi Bắc Cực Đại Đế (中天紫微北極大帝), Câu Trần Thượng Cung Thiên Hoàng Đại Đế (勾陳上宮天皇大帝) và Hậu Thổ Hoàng Địa Kỳ (后土皇地祇). Trong các thư tịch của Đạo Giáo lại giải thích Tứ Ngự là Bắc Cực Tử Vi Đại Đế (北極紫微大帝), Nam Cực Trừng Sanh Đại Đế (南極長生大帝), Thái Cực Thiên Hoàng Đại Đế (太極天皇大帝) và Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế (東極青華大帝). Câu Trần Thượng Cung Thiên Hoàng Đại Đế là Câu Trần (勾陳) cấu thành 4 tổ hợp sao bên trái của tòa Bắc Cực Đế (北極帝), vị trí đồng với Bắc Cực. Về chức năng, Thiên Hoàng Đại Đế trợ giúp Ngọc Hoàng Đại Đế quản chưởng Nam Bắc Cực cùng với trời, đất và người; thống lãnh các vì sao và chủ trì việc binh đao của con người. Về tế tự, ngày sanh của Thiên Hoàng Đại Đế là mồng 2 tháng 2, cho nên vào ngày nầy tại các Đạo quán có tổ chức cúng tế long trọng. Theo thuyết của Nhật Bản cho rằng Thiên Hoàng Đại Đế là các vì sao quay chung quanh sao Bắc Cực (北極), là Bắc Thần (北辰) vốn được thần cách hóa; cho nên, xưng hiệu Thiên Hoàng cũng phát xuất từ truyền thuyết nầy. Như trong Xuân Thu (春秋), phần Nguyên Mạng Bao (元命苞) có câu: “Thiên Hoàng Đại Đế, Bắc Thần tinh dã (天皇大帝北辰星也, Thiên Hoàng Đại Đế là sao Bắc Thần)” Tống Sử (宋史) quyển 99 giải thích rằng: “Thiên Hoàng Đại Đế nhất tinh tại Tử Vi Câu Trần trung, kỳ thần viết Diệu Phách Bảo, tức Thiên Hoàng thị tinh (天皇大帝一星在紫微勾陳中其神曰耀魄寶、卽天皇是星, một ngôi sao Thiên Hoàng Đại Đế ngự trong Tử Vi Câu Trần; thần của sao nầy gọi là Diệu Phách Bảo, tức chính là sao Thiên Hoàng).” Hay trong Tấn Thư (晉書), phần Thiên Văn Chí Thượng (天文志上) có câu: “Câu Trần khẩu trung nhất tinh viết Thiên Hoàng Đại Đế, kỳ thần viết Diệu Phách Bảo, chủ ngự quần linh, chấp vạn thần đồ (鉤陳口中一星曰天皇大帝其神曰耀魄寶主御群靈執萬神圖, một sao trong miệng Câu Trần tên là Thiên Hoàng Đại Đế, vị thần nầy có tên Diệu Phách Bảo, chủ chế ngự các linh, cầm bản đồ của vạn thần).” Hoặc như trong Biện Chánh Luận (辯正論) quyển 2 của Phật Giáo do Sa Môn Thích Pháp Lâm (釋法琳) nhà Đường soạn, cũng có câu: “Thiên Hoàng Đại Đế giả, thị Tử Vi Tôn Thần, nhất danh Diệu Phách Bảo tức trung ương thiên dã, vị chi Bắc Cực, tại Câu Trần chi nội, vi thiên chi chủ, chúng tinh sở tôn, tả hữu Thiên Nhất Thần, hữu hữu Thái Nhất Thần, vi tả hữu tướng (天皇大帝者是紫微尊神一名曜魂寶中央天也謂之北極在鉤陳之內天之主眾星所尊左有天一神右有太一神爲左右將, Thiên Hoàng Đại Đế là Tử Vi Tôn Thần, có một tên khác là Diệu Phách Bảo, tức vị trời ở trung ương, được gọi là Bắc Cực, ở trong sao Câu Trần, là chủ của cõi trời, được các sao tôn kính; bên trái có Thiên Nhất Thần, bên hữu Thái Nhất Thần, là hai vị tướng hai bên phải trái).” Trong Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo Tam Thập Lục Bộ Tôn Kinh (太上無極大道三十六部尊經) có đảnh lễ danh hiệu rằng: “Chí tâm quy mạng lễ, Tử Vi Thần Cực, Câu Trần Thiên Cung, Cửu Quang Bảo Uyển chi trung, Ngũ Khí Huyền Đô chi thượng, Thể Nguyên Hoàng nhi Tả Ty Huyền Hóa, tổng lưỡng cực nhi cọng lý Tam Tài, chủ trì binh cách chi quyền hành, quảng suy đại đức, thống ngự tinh thần chi triền thứ, thượng tượng nguy nga, chơn nguyên khôi mạc, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Câu Trần Thượng Cung, Thiên Hoàng Đại Đế (至心皈命禮紫微宸極勾陳天宮九光寶苑之中五氣玄都之上體元皇而佐司玄化總兩極而共理三才主持兵革之權衡廣推大德統御星辰之躔次上象巍峨、眞元恢漠大悲大願大聖大慈勾陳上宮天皇大帝, Một lòng quy mạng lễ, Tử Vi Thần Cực, Câu Trần Thiên Cung, trong Cửu Quang Bảo Uyển, trên Ngũ Khí Huyền Đô, Thể Nguyên Hoàng mà Tả Ty Huyền Hóa, tổng quản hai cực mà cùng quản lý Tam Tài, chủ trì quyền hành binh lính, rộng ban đức lớn, thống lãnh các sao đi đến, hình tượng nguy nga, chơn nguyên rộng lớn, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Câu Trần Thượng Cung, Thiên Hoàng Đại Đế).” Xưa kia, vua Cao Tông (高宗, tại vị 649-683) nhà Đường có thụy hiệu là “Thiên Hoàng Đại Đế”.
  6. Phù Tang (扶桑): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên của vị thần Phù Tang (Thần Mộc), ở phương Đông của Trung Quốc, nằm trong biển nơi mặt trời mọc. (2) Nó còn là tên gọi của Nhật Bản, nơi có nhiều cây hoa Phù Tang (dâm bụt, Chinese hibiscus, China rose, Hibiscus rosa-sinensis L., thuộc Khoa Cẩm Quỳ [錦葵, Malvaceae]). Phù Tang Đại Đế (扶桑大帝) là tên gọi khác của Đông Vương Công (東王公), Đông Vương Phụ (東王父), Đông Hoa Đế Quân (東華帝君), Phù Tang Đế Quân (扶桑大帝), Thanh Đồng Quân (青童君), Thanh Đề Đế Quân (青提帝君), Đông Phụ (東父), Đông Quân (東君), Mộc Công (木公), v.v., là vị tiên nhân trong thần thần thoại Trung Quốc, vị vua ở phương Đông, thường đối ứng với Tây Vương Mẫu (西王母); nghĩa là Tây Vương Mẫu thống suất các tiên nữ trên thiên giới, còn Đông Vương Công thì thống lãnh các tiên nam. Về lai lịch của Phù Tang Đại Đế hay Đông Vương Công, có nhiều ký lục khác nhau. Chẩm Trung Thư (枕中書) thì cho rằng ông do Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) và Thái Nguyên Thánh Mẫu (太元聖母) sanh ra. Trong khi đó, Thần Dị Kinh (神異經) do Đông Phương Sóc (東方朔, 154-93 ttl.) nhà Hán soạn, lại ghi rằng: “Đông hoang sơn trung hữu đại thạch thất, Đông Vương Công cư yên; trường nhất trượng, đầu phát hạo, nhân hình điểu diện nhi hổ mao, tải nhất hắc hùng, tả hữu cố vọng (東荒山中有大石室東王公居焉長一丈頭髮皓人形鳥面而虎尾載一黑熊左右顧望, trong núi hoang vu phía Đông có một hang đá lớn, là nơi Đông Vương Công ở; thân ông dài một trượng, đầu tóc trắng, hình người, mặt chim mà lông cọp, mang một con gấu đen, nhìn quanh phải trái).” Lại có thuyết cho rằng Đông Hoa Đế Quân lãnh đạo các tiên nam, có họ là Nghê (), tên Quân Minh (君明). Khi thiên hạ đang còn hỗn độn, ông sanh ra trên biển xanh, sáng tạo ra vạn vật, chủ quản khí âm dương ở phương Đông. Ngày sinh nhật của ông là mồng 6 tháng 2 Âm Lịch. Cho nên, trong Thượng Chơn Chúng Tiên Ký (上眞衆仙記) cũng cho biết rằng: “Phù Tang Đại Đế trú tại bích hải chi trung, trạch địa tứ diện, tinh phương tam vạn lí, thượng hữu Thái Chơn Quân, Bích Ngọc Thành(扶桑大帝住在碧海之中、宅地四面、並方三萬里上有太宮、碧玉城, Phù Tang Đại Đế ở trong biển xanh, có nhà và đất bốn mặt, vuông vức 30.000 dặm, trên có Thái Chơn Quân, Bích Ngọc Thành).” Cũng có thuyết khác cho rằng Đông Hoa Đế Quân có liên quan đến tín ngưỡng thời Xuân Thu Chiến Quốc (春秋戰國). Đương thời tín ngưỡng vị thần Đông Hoàng Thái Nhất (東皇太一) ở vùng đất Sở, còn gọi là Đông Quân (東君), tức là Thần Thái Dương (太陽神, hay Thái Dương Tinh Quân [太陽星君]) biến hóa; được xem như là hóa thân của Đông Vương Cung hay Đông Hoa Đế Quân. Có thuyết khác cho rằng Đông Hoa Đế Quân tên là Vương Huyền Phủ (王玄甫), sư phụ của Chánh Dương Chân Nhân Chung Ly Quyền (正陽鍾離權); tương truyền ông là tiền thân của Thuần Dương Chân Nhân Lữ Nham (純陽人呂岩, tức Lữ Đồng Tân [呂洞賓]). Thuyết nầy có thể thấy trong các truyện tiểu thuyết như Bát Tiên Đắc Đạo Truyện (八仙得道傳), Đông Du Ký (東遊記), v.v. Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, CBETA No. 1497) quyển 3 có đoạn rằng: “Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Ngũ Nhạc Thánh Đế, Ngũ Nhạc Tá Mạng Chơn Quân, Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế, Tứ Đại Hải Vương, Tứ Độc Nguyên Công, Thủy Phủ chư thần, Ngũ Phương Long Vương, Tứ Hải Cửu Giang Ngũ Hồ Thất Trạch chư Long Vương chúng (東嶽天齊仁聖帝五嶽聖帝五嶽佐命水府扶桑大帝四大海王四瀆源公水府諸神五方龍王四海九江五湖七澤諸王眾, Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế, Ngũ Nhạc Thánh Đế, Ngũ Nhạc Tá Mạng Chơn Quân, Thủy Phủ Phù Tang Đại Đế, Tứ Đại Hải Vương, Tứ Độc Nguyên Công, Thủy Phủ chư thần, Ngũ Phương Long Vương, các chúng Long Vương khắp bốn biển, chín sông, năm hồ, bảy suối).”
  7. Động Đình (洞庭): tức Động Đình Hồ (洞庭湖), tên gọi hồ lớn ở miền Bắc Tỉnh Hồ Nam (湖南省), bờ Nam Trường Giang (長江), diện tích 2, 820 km2, được xem như là hồ nước lớn thứ 2 Trung Quốc với tên là Bát Bách Lí Động Đình (八百里洞庭, Động Đình Tám Trăm Dặm). Cả 4 dòng sông Tương (), Tư (), Nguyên () và Lễ () cùng đỗ vào hồ nầy; tại Huyện Nhạc Dương (岳陽縣), hồ nhập vào Trường Giang. Trong hồ có khá nhiều núi nhỏ, trong đó nổi tiếng nhất là Quân Sơn (君山). Bên bờ hồ có các cổ tích, thắng cảnh như Lầu Nhạc Dương (岳陽樓), v.v. Trong Bát Nghĩa Ký (八義記), phần Sơn Thần Điểm Hóa (山神點化) có câu: “Tam túy Nhạc Dương Nhân bất thức, lãng ngâm phi quá Động Đình Hồ (三醉岳陽人不識朗吟飛過洞庭湖, say túy Lầu Nhạc Dương người chẳng biết, ngâm nga qua khỏi Hồ Động Đình).” Hay trong Tương Phi Miếu Ký Lược (湘妃廟記略) có giải thích rõ rằng: “Động Đình cái thần tiên động phủ chi nhất dã, dĩ kỳ vi Động Đình chi đình, cố viết Động Đình; toại chỉ Động Đình chi sơn dĩ danh hồ viết Động Đình Hồ (洞庭蓋神仙洞府之一也以其爲洞庭之庭故曰洞庭遂指洞庭之山以名湖曰洞庭湖, Động Đình là một trong các động phủ của thần tiên, do vì nó là cái đình của Động Đình, nên gọi là Động Đình; lại chỉ cho việc lấy tên núi Động Đình đặt cho hồ là Hồ Động Đình).” Trong Sở Từ (楚辭), Cửu Ca (九歌), phần Tương Phu Nhân (湘夫人) có câu: “Niễu niễu hề thu phong, Động Đình ba hề mộc diệp hạ (嫋嫋兮秋風洞庭波兮木葉下, yểu điệu chừ gió thu, sóng Động Đình chừ dưới lá cây).”
  8. Bắc Hải (北海): biển phía Bắc, có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi một địa phương rất xa xôi, rất ít được dùng đến thời cổ đại. Như trong Tả Truyện (左傳), chương Hy Công Tứ Niên (僖公四年) có câu: “Quân xử Bắc Hải, quả nhân xử Nam Hải, duy thị phong mã ngưu bất tương cập dã (君處北海寡人處南海唯是風馬牛不相及也, người ở biển Bắc, quả nhân ở biển Nam, chỉ là gió trâu ngựa không cùng đến được).” Hay trong Tuân Tử (荀子), phần Vương Chế (王制) cũng có đoạn: “Bắc Hải tắc hữu tẩu mã phệ khuyển yên, nhiên nhi Trung Quốc đắc nhi súc sử chi (北海則有走馬吠犬焉然而中國得而畜使之, biển Bắc tất có ngựa chạy chó sủa, vì vậy Trung Quốc bắt đem về nuôi và sử dụng chúng).” (2) Tên gọi khác của Bột Hải (), như trong Trang Tử (莊子), phần Thu Thủy (秋水) có câu: “Thuận lưu nhi Đông hành, chí ư Bắc Hải, Đông diện nhi thị, bất kiến thủy đoan (順流而東行至於北海東面而視不見水端, theo dòng mà đi về phía Đông, đến nơi Bột Hải, xoay mặt về phía đông mà nhìn, chẳng thấy nguồn nước).” (3) Tên gọi của Quận Bắc Hải (北海) dưới thời nhà Hán, hiện ở tại địa phương Huyện Xương Lạc (昌樂縣), Tỉnh Sơn Đông (山東省). Như trong Văn Tâm Điêu Long (文心雕), phần Lụy Bi (誄碑) có đoạn rằng: “Phó Nghị chi lụy Bắc Hải, vân ‘bạch nhật u quang, phân vụ yểU Minh’ (傅毅之誄北海白日幽光雰霧杳冥, Phó Nghị thuật về Quận Bắc Hải rằng: ‘ban ngày tối tăm, sương khói mù mịt’).” Vào cuối thời nhà Hán, Khổng Dung (孔融, 153-208) được bổ nhiệm làm tướng ở Quận Bắc Hải, nên người đời gọi ông là Khổng Bắc Hải (孔北海). Trong bài thơ Thanh Uyển Vọng Lang Sơn Hữu Hoài Chu Khắc Trai (清苑望郎山有懷朱克齋) của Diêu Nãi (姚鼐, 1731-1815) nhà Thanh lại có câu: “Dục tương Bắc Hải đồng tôn tửu, nhiễu tận Tây Sơn đáo Vệ Châu (欲將北海同樽酒遶盡西山到衛州, muốn đến Bắc Hải cùng nhắp rượu, đi khắp Tây Sơn đến Vệ Châu).” (4) Bên cạnh đó, đây là tên gọi của Hồ Baikan của Siberia. Trong Tô Võ Truyện (蘇武傳) nhà Hán có đoạn rằng: “Hung Nô tỉ Tô Võ ư Bắc Hải thượng (匈奴徙蘇武於北海上, giặc Hung Nô đuổi Tô Võ lên vùng Hồ Baikan).”
  9. Hà Bá (河伯): tên gọi của vị Thủy Thần ở Hoàng Hà (黃河) trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc. Về lịch sử, tên ban đầu của Hà Bá là Băng Di (冰夷), Bằng Di (馮夷), Hà Thần (河神), Vô Di (無夷). Tên gọi Hà Bá phát xuất từ thời Chiến Quốc (戰國, 403 hay 453-221 ttl.), truyền thuyết không thống nhất với nhau. Vì Hoàng Hà thường lũ lụt, gây tai họa khôn xiết, cho nên người ta cho rằng tính tình của Hà Bá cũng hung bạo. Thần thoại kể rằng Hậu Nghệ (羿) đã từng dùng tên bắn vào mắt trái Hà Bá. Do vì ông có uy lực không thể lường, nên từ xưa đã có tập tục xấu “Hà Bá Thú Phụ (河伯娶婦, Hà Bá Cưới Vợ)”, lấy đó để cầu được bình an, không hoạn nạn. Về truyền thuyết “Hà Bá Thú Phụ (河伯娶婦, Hà Bá Cưới Vợ)”, dưới thời đại Chiến Quốc, Tây Môn Báo (西門豹) được phái đến Nghiệp Thành (鄴城, nay thuộc Huyện Lâm Chương [臨漳縣], Tỉnh Hà Bắc [河北省]) làm quan huyện. Khi đến nơi thì không bóng người qua lại, cả ngày hoang vắng, bèn hỏi xem thử nguyên do vì sao. Có một lão già tóc bạc phơ bảo rằng đó là do vì chuyện Hà Bá cưới vợ gây nên náo loạn như vậy. Hà Bá là thần của sông Chương, hằng năm đều phải cưới một cô nương xinh đẹp. Nếu như không đem cống nạp, tất sông Chương sẽ phát sinh lũ lớn, làm cho ruộng đất, nhà cửa đều ngập trong biển nước. Nghe vậy, Tây Môn Báo biết rằng đây là câu chuyện bịa đặt của tên tham quan nào đó để xách nhiễu lòng dân. Đợi đến ngày Hà Bá Cưới Vợ năm sau, ông đến ngay tại hiện trường quan sát. Ông phát hiện con quan lớn nhỏ cùng với mấy bà đồng bóng đội lốt thần quỷ cũng có mặt. Về sau, Tây Môn Báo không tin vào truyền thuyết đó, cấm tuyệt không cho thờ cúng, kêu gọi dân chúng làm cầu, ngăn đê, cuối cùng dứt được sự lo âu về thủy tai. Về truyền thuyết, Hà Bá có thân người đuôi cá, tóc trên đầu màu trắng bạc, tròng mắt có màu sắc rực rỡ như ngọc Lưu Ly. Tuy nhiên, ông là người nam, có vẻ đẹp dị thường, trên thân có mùi hương thơm ngát, mới nhìn thoáng qua khoảng không quá 20 tuổi. Trong Bão Phác Tử (抱朴子), Thiên Thích Quỷ (釋鬼篇), có giải thích rằng Băng Di đi qua sông, bị chết đuối, được Thiên Đế giao cho làm Hà Bá để quản lý sông hồ. Hay như trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 4 có đoạn giải thích sự việc trên rằng: “Tống thời Hoằng Nông Bằng Di, Hoa Âm, Đồng Hương, Đê Thủ nhân dã, dĩ bát nguyệt thượng Canh nhật độ hà, nịch tử; Thiên Đế thự vi Hà Bá (宋時弘農馮夷華陰潼鄉隄首人也以八月上庚日渡河溺死天帝署爲河伯, vào thời nhà Tống, có Hoằng Nông Bằng Di, người Đê Thủ, Đồng Hương, vùng Hoa Âm, nhân qua sông vào ngày Canh đầu tháng 8, bị chết đuối; Thiên Đế phong cho làm Hà Bá).” Trong tác phẩm Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 75 của Phật Giáo cũng có cùng nội dung tương tự như vậy. Cũng có thuyết cho rằng Hà Bá dùng 8 thứ đá (xưa kia các Đạo gia dùng 8 loại nguyên liệu bằng đá để luyện đơn, gồm Chu Sa [硃砂], Hùng Hoàng [雄黃], Thử Hoàng [雌黃], Không Thanh [空青], Vân Mẫu [雲母], Lưu Huỳnh [硫黃], Nhung Diêm [戎鹽], và Tiêu Thạch [硝石]) và thành thần, như trong Sơn Hải Kinh Hải Kinh Tân Thích (山海經海經新釋) quyển 7 có giải thích: “Bằng Di, Hoa Âm, Đồng Hương, Đê Thủ nhân dã, phục bát thạch, đắc Thủy Tiên, thị vi Hà Bá (馮夷華陰潼鄉隄首人也服八石得水仙河伯, Bằng Di, người Đê Thủ, Đồng Hương, vùng Hoa Âm, dùng tám loại đá, thành Thủy Tiên, đó là Hà Bá).” Vị thần nầy còn có tên gọi khác là Hà Bá Sứ Giả (河伯使者), như trong Thần Dị Kinh (神异經), phần Tây Hoang Kinh (西荒經) có câu: “Tây hải thủy thượng hữu nhân, thừa bạch mã chu liệp, bạch y huyền quan, tùng thập nhị đồng tử, sử mã Tây hải thủy thượng, như phi như phong, danh viết Hà Bá Sứ Giả (西海水上有人乘白馬朱鬣白衣玄冠從十二童子駛馬西海水上如飛如風名曰河伯使者, trên mặt nước biển Tây có người cỡi con ngựa trắng, bờm đỏ, mặc áo trắng, đội mũ đen, cùng với mười hai đồng tử, cỡi ngựa trên mặt nước biển Tây, bay nhanh như gió, tên là Hà Bá Sứ Giả).” Tên gọi Kappa ở Nhật cũng xuất phát từ nguyên ngữ nầy. Nó đồng nghĩa với Hà Tông (河宗). Tín ngưỡng Hà Bá cũng rất thịnh hành ở Việt Nam; cho nên tục ngữ Việt Nam thường có câu: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá.” Truyền thuyết của Hà Đồng (河童) vốn phát xuất rất sớm từ vùng thượng du của lưu vực Hoàng Hà; xưa kia gọi là Thủy Hổ (水虎), hay Hà Bá. Về truyền thuyết của Hà Đồ, khi vua Đại Vũ (大禹) quản lý Hoàng Hà, có 3 báu vật là Hà Đồ (河圖, Bản Đồ Sông Nước), Khai Sơn Phủ (開山斧, Búa Mở Núi) và Tỵ Thủy Kiếm (避水劍, Kiếm Tránh Nước). Truyền thuyết cho rằng Hà Đồ do vị Thủy Thần là Hà Bá trao cho vua Đại Vũ. Vua Phục Nghi (伏羲) quan sát rất kỹ lưỡng đối với sự hưng suy của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, thời tiết, khí hầu, cây cỏ, v.v. Có hôm nọ, bỗng nhiên giữa Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (龍馬), ông thấy chấn động tâm thần, tự thân cảm xúc được sự linh thiêng của trời đất, tự nhiên. Nhà vua phát hiện trên thân con ngựa có đồ hình, rất tâm đầu ý hợp với ý tưởng về quá trình quán sát vạn vật. Phục nghi đi qua thân con ngựa, quan sát thật kỹ, vẽ ra đồ hình Bát Quái (八卦). Từ đó, đồ hình trên thân con ngựa kia được gọi là Hà Đồ. Trong Sơn Hải Kinh (山海經) có giải thích rằng: “Phục Nghi đắc Hà Đồ, Hạ nhân nhân chi, viết Liên Sơn (伏羲得河圖夏人因之曰連山, Phục Nghi có được Hà Đồ, người Hạ nhân đó gọi là Liên Sơn).” Ngay như Kinh Quái (經卦) của Phục Nghi cũng xuất phát từ nguồn gốc hiện tượng thiên văn, có căn nguyên từ Hà Đồ. Trong bài Cửu Ca (九歌) của Khuất Nguyên (屈原, 340-278 ttl.) cũng có thiên viết về Hà Bá.
  10. Dương dương (洋洋): mênh mông, vời vợi.
  11. Trạc trạc (濯濯): sáng sủa, chói lọi, vui vẻ.